- 06:51 - 15/12/2015
 
“Các trách nhiệm này của chúng tôi xin truyền lại đời bộ trưởng sau. Vì thời gian không còn nữa thì làm sao bây giờ” Hoàng Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lich (trả lời chất vấn Quốc hội cuối kỳ về trách nhiệm của Bộ trưởng)

                                           

1a

(Ảnh minh họa, nguồn Internet) 

Toàn văn nội dung Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương-TPP đã được công bố, và Việt Nam bước vào một thời kỳ mới với nhiều ẩn số khó lường: cả cơ hội lẫn thách thức. Sẽ làm gì đây những người dân Việt cần cù, chăm chỉ lao động nhưng rất ít biết về những luật chơi của nền kinh tế  thị trường hiện đại, trong một khu vực chiếm tới 40% tổng sản phẩm lảm ra của toàn thế giới ? Trong đó, có một thách thức cơ bản, nhưng ít người biết tới, là nguy cơ chúng ta sẽ hội nhập bằng cái gì khi mà hàng hoá Việt Nam, cả những mặt hàng truyền thống đứng hàng đầu thê giới, như lúa gạo, đến những sản phẩm hiện đại đang được ưa chuộng sử dụng cao và ít tiếng tăm, như những sản phẩm phần mềm do các kỹ sư Việt viết nên, đều không có thương hiệu cả cho sản phẩm cũng như cho doanh nghiệp.

Đầu tiên là gạo. Việt Nam hiện đang là nước sản xuất và xuất khẩu gạo hàng thứ ba hay thứ hai trên thế giới, tuỳ năm. Gạo Việt được xuất khẩu với khối lượng lớn, giá rẻ cho những thị trường dễ tính như Philipine, Indonesia, các nước châu Phi… và nhất là cho Trung Quốc thông qua con đường tiểu ngạch. Cho đến nay, chúng ta vẫn không hề có một thương hiệu nào cho gạo Việt ngoài một cái tên chung là gạo Việt Nam với sự mặc đinh, một cách nhầm lẫn, rằng đó toàn là những loại phẩm cấp thấp. Trong khi đó người Thái Lan đã xây dựng thương hiệu Thai Hom Mali cho gạo giống Jasmine của họ từ năm 1959, còn Campuchia tuy mới bước vào thị trường gạo thế giới 5 năm nhưng có thương hiệu Phkaromduol của mình. Nhờ vậy, cùng là sản phẩm gạo giống Jasmine nhưng giá gạo Thái cao hơn gạo Việt 340 USD mỗi tấn, còn gạo Campuchia đã có danh tiếng là gạo ngon nhất thế giới.

Còn các sản phẩm hiện đại, như phần mềm của công nghiệp tin học,.thì sao? Ít ai biết được rằng doanh số của hoạt đông gia công phần mềm nước ta hiện đạt trong khoảng 1,5-2 tỷ đô la mỗi năm và gia tăng với tỷ lệ 20-30% mỗi năm. Các công ty phần mềm của Việt Nam hiện đang gia công phần mềm cho các công ty lớn ở nước ngoai với trình độ cao: 20 triệu người ở Mỹ đang sử dụng điện thoại có phần mềm do kỹ sư Việt viết, 400.000 người đang sử dụng xe Ford giám sát xe bằng một ứng dụng di động do kỹ sư Việt lập trình trong khi 200 triệu người tra cứu Google đang sử dụng một phần mềm gắn ảnh (image tagging software) cũng do kỹ sư Việt soạn thảo ( theo TBKT Sài gòn). Nhưng dù đã được tính đến trong danh sách những địa điểm gia công phần mềm hàng đầu thế giới, thứ 18 đối với TP Hồ Chí Minh và 20 đối với Hà Nội và là nước nằm trong tôp 10 quốc gia tốt nhất châu Á về gia công phần mềm, các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam vẫn chưa tạo dựng được thương hiệu đáng kể nào trên trường quốc tế.

Vì thiếu những thương hiệu đủ mạnh đó cho nên người Việt làm ra nhiều gạo, hai đến ba vụ một năm, mà lợi nhuận thu về được chẳng là bao cho người nông dân. Còn những người làm tin học nước nhà dù cố gắng đến mấy thì thu nhập của họ vẫn thuộc hàng thấp nhất trong khu vực, và người ta đổ đến Việt Nam cũng chỉ vì cái rẻ đó. Nhưng thời gian qua đi mà việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm và doanh nghiệp nước nhà xem ra vẫn chẳng đi đến đâu, trong khi hội nhập với thế giới đã vào cao trào.

Có nhiều lý do để giải thích cho việc đủng đỉnh và không quan tâm tói việc xây dựng thương hiệu này, nhất là đối với các sản phẩm công nghệ cao như phần mềm, của những người đang hoạch định chính sách phát triển.

Đầu tiên lý do dễ thấy nhất : tàn dư của thời kỳ bao cấp luôn thiếu hụt hàng hoá vẫn đang ngự trị trong xã hội với thói quen cho rằng cái cần nhất là làm ra sản phẩm, còn bán sản phẩm là việc quá dễ dàng. Có điều, trong nền kinh tế thị trường, nhất là thời hội nhập, mọi việc lại khác: có vô vàn những sản phẩm tương đương và không có lý do gì người ta sẽ mua một sản phẩm cụ thể nào đó nếu nó không có được một thương hiệu nổi tiếng, được  nhiều người biết đến. Tư duy không cần thương hiệu đã bắt rễ lâu đời và cơ sở của nó, nền kinh tế lấy doanh nghiệp nhà nước làm trung tâm, đến nay vẫn chưa bị loại bỏ.. Cũng có điều, đổ lỗi cho bao cấp là điều dễ làm nhất và cũng khó để làm được gì nhằm cải thiện tình hình nhất.

Thứ hai, việc xây dựng thương hiệu không phải là việc làm đơn giản. Nó bao gồm nhiều hoạt động từ việc đảm bảo có một sản lượng đủ lớn, sẵn có, với chất lượng của sản phẩm đủ ổn định phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi xã hội và mọi nền văn hoá khác nhau, thiết kế lôgô dễ nhận dạng cho đến các chiến dịch truyền thông đưa thông tin về sản phẩm đến đại chúng… và, nhất là, cần nhiều năm tháng giữ gìn để không có tỳ vết gì xảy ra với sản phẩm. Đây là những hoạt động rất tốn kém và có thể vượt sức của nhiều doanh nghiệp lúc khởi sự, nên để xây dựng được các thương hiệu mạnh của quốc gia cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và, đôi khi, là cả bắt buộc đối với các doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần có một nền hành chính có trách nhiệm: có trách nhiệm với sự phát triển chung của đất nước, thể hiện qua việc xây dựng các thương hiệu, và có trách nhiệm cá nhân của những nhà lập chính sách và quản lý với sự thành bại trong việc xây dựng thương hiệu này. Và đòi hỏi này là nhất quán và liên tục xuyên qua nhiều thế hệ các nhà hoạch định chính sách, như ta đã biết, xây dựng thương hiệu cần có thời gian và lòng kiên trì của nhiều thế hệ.

Xem ra để đạt được những điều này đang gần như là không thể trong môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt.

Vì các doanh nghiệp nhà nước dang giữ địa vị chi phối trong nền kinh tế quốc dân và đang sử dụng tới 80% các tiềm lực quốc gia vẫn dang vận hành theo kiểu cũ: trọng cung chứ chưa trọng cầu không cần thương hiệu, và người lãnh đạo được bổ nhiệm từ đâu đó về doanh nghiệp sẽ không có lý do gì để sống chêt với doanh nghiệp cũng như với các thương hiệu của chúng, cả khi đương chức cũng như sau khi đã hết chức.

Vì các nhà quản lý và hoạch định chính sách có tư duy vẫn đang đơn giản và ít hiểu biết đối với thương hiệu: cứ xem việc các quan chức Bộ Công thương hồn nhiên khẳng định Samsung là hàng Việt Nam trên TTXVN cách đây hai tháng thì rõ. Hàn Quốc đã mất cả nửa thế kỷ để xây dựng nên thương hiệu Samsung và Made in Korea, sản xuất ở Hàn Quốc, đâu phải để đơn giản chúng ta có thể ngộ nhận chúng là của mình hay để thế giới thừa nhận dễ dàng coi rằng đây là hàng Việt Nam, cho dù chúng có thể được lắp ráp tại Việt Nam. Không bỏ sức ra mà cứ nhận của mình là tư duy không phù hợp với kinh tế thị trường, nơi mà người ta chỉ trả giá trị cho bạn nếu bạn có đóng góp được giá trị gia tăng vào đó. Và hàng hoá chỉ có thể là hàng Việt Nam khi giá trị của chúng ta góp vào đó phải vượt ít ra hơn 50%.

Và vì các nhà lập chính sách ở cấp cao hơn trong nền kinh tế cũng đang bị chi phối bởi tư duy nhiệm kỳ: họ lên đảm nhiệm các vị trí quan trọng không có các chính sách và các cam kết cụ thể những gì sẽ làm cho quốc dân biết, và họ ra về cũng chẳng mấy bận tâm những gì mình đã làm được trong suốt cả một, hai nhiệm kỳ của người hoạch định chính sách. Họ tâm niệm thật là đơn giản: cứ chuyển trách nhiệm cho người sau, như quan niệm của ông bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, một lĩnh vực đang rất cần xây dựng và bảo vệ các thương hiệu. Vậy mà nền hành chính chúng ta đã bắt tay vào cải tổ kéo dài được 20 năm! 

Việt Nam đang vật lộn để phát triển trong suốt một phân tư thế kỷ qua, những thành công đạt được là những kết quả rất bất ngờ: công sức vô cùng lớn lao của những người lao động, từ những nông dân ít học cho đến những người kỹ sư phần mềm học vấn cao. Tương lai sắp tới vẫn là trông chờ vào sức lao động của những con người ấy, nhất là những người đang làm việc trong những lĩnh vực công nghệ cao như phần mềm máy tính, công nghiệp điện tử hay công nghiệp văn hoá… những ngành có thể mang lại các giá trị gia tăng vượt trội một cách nhanh chóng nhất. Triển vọng thực tế có thể cũng sẽ là những bất ngờ thú vị mà người Việt sẽ có thể mang lại.

Nhưng vai trò và sự đóng góp của các nhà hoạch định chính sách nước nhà, qua trường hợp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm Việt, quả là còn có thê được gia tăng hơn nữa. Vai trò rất quan trọng của họ chưa được thừa nhận một cách tương xứng, trong khi đóng góp của họ thường là không mấy rõ ràng và trách nhiệm của họ lại càng không rõ ràng ơn nữa.  Nếu như có được những chính sách phù hợp, trước hết là trong việc định hinh và phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, cái mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được như trường hợp công ghiệp gia công phần mềm, cùng với thương hiệu Việt Nam đủ mạnh để hội nhập với thế giới, thì giá trị sản phẩm Việt Nam mang lại sẽ gia tăng nhiều lần. Và cũng chỉ có như thế mới đáng để mở cửa để thị trường Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới.

Như vậy, TPP và hàng chục hiệp định tự do thương mại đã và đang được Việt Nam  ký kết, nhưng xem ra tư duy của nhiều nhà quản lý vẫn như xưa. Nếu vậy trong sân chơi toàn câu hoá vô cùng khắc nghiệt, phần thua thiệt của người Việt là rất cao. Vậy nên lời dạy của nhà khoa học vĩ đại, Albert Einstein, vẫn cần được nhắc lại : ‘’.Không thể giải quyết được vấn đề chúng ta phải đương đầu bằng trình độ tư duy giống như khi chúng ta gây ra những vấn đề đó’’

Phạm Bích San 

Bạn nghĩ sao?
Click vào nút dưới đây để bình luận về bài viết này.
Hiển thị nhận xét
Báo Điện tử Tầm Nhìn
Báo Điện tử Tầm Nhìn
Báo Điện tử Tầm Nhìn