- 06:56 - 08/10/2015
 
Sau khi các hãng công nghệ lớn lần lượt đã có sự hiện diện ở Việt Nam, nay thì đến lượt các hãng chế tạo các linh kiện phụ trợ cũng bắt đầu ngấp nghé cập bến nước ta. Hàn Quốc, nước đứng đầu trong đầu tư vào công nghệ cao
1a

Con trâu kéo cày cả đời trên cánh đồng, nhưng chẳng bao giờ trở thành ông chủ.

Châm ngôn hiện đại

 

Sau khi các hãng công nghệ lớn lần lượt đã có sự hiện diện ở Việt Nam, nay thì đến lượt các hãng chế tạo các linh kiện phụ trợ cũng bắt đầu ngấp nghé cập bến nước ta. Hàn Quốc, nước đứng đầu trong đầu tư vào công nghệ cao ở Việt Nam, vừa cho biết trong một cuộc thăm dó ý kiến do Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc tiến hành mới đây, khi hỏi đâu là điểm đến đầu tư lý tưởng nhất đối với họ, có 49% số doanh nghiệp được hỏi đã chọn đâu tư vào Việt Nam. Nhật Bản, một quốc gia đã có sự hiện diện của các hãng rất lớn vào Việt Nam từ lâu, nay cũng quan sát thấy một làn sóng mới các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang gia tăng sự hiện diện của mình trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam. Đây thực sự là những tín hiệu đáng mừng sau nhiều năm dài chờ đợi trong lo âu và hy vọng.

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự lựa chọn này được cho biết là vì ở Việt Nam lao động trẻ, tiền công rẻ và có thể tận dụng được các cơ hội mà những hiệp định thương mại tự do, đã và đang được ký ào ào, có thể mang lại. Làm rõ thêm những luận cứ cho xu hướng này, ngày 3/9 trang tin điện tử http://www.pcmag.com đã có bài bình luận về cơ hội trở thành thung lũng Silicon của Đông Nam Á của Việt Nam. Theo đó thi hiện ở Việt Nam có 14.000 doanh nghiệp CNTT  sản xuất phát triển phần cứng, phân mềm và kỹ thuật số trong khi mới 15 năm trước rất khó để tìm một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở đây. Quả là một sự phát triển rất vượt bậc. Còn nhìn về mặt nhân lực chung thì vào năm 2013, theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghê, Việt Nam có khoảng 97.000 người có trình độ cao đẳng trở lên về công nghệ thông tin và truyền thông và trên 32.000 người làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp phần mềm và nội dung số. Một con số không nhỏ cho sự take off, cất cánh, và còn có thể tăng trưởng rất nhanh cùng với sự quan tâm của chính phủ.

Tuy nhiên, những cái được nêu lên xem ra mới chỉ là những điều kiện đủ để có thể phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao, còn để hình thành được những khu công nghiệp có thể đem lại sự giàu có cho quốc gia, như thung lũng Silicon đã mang lại cho nước Mỹ, trước hết còn phải có những điều kiện cần: có những con người có trình độ sáng tạo. Và bản chất của thung lũng Silicon có một điều rất căn bản chúng ta cũng nên biết ở đây là những người trẻ tuổi kéo nhau đến thung lũng đó để hy vọng trở thành ông chủ, và thung lũng Silicon cung cấp những điêu kiện thiết yếu để họ có thể thực hiện những ý tưởng mà họ đã có trong đầu, có thể rất điên rồ theo cách nghĩ thông thường, và nhờ đó họ có thể trở thành các ông chủ. Còn sự hình thành nên các ý tưởng mới mẻ đó lại chỉ có thể có được nhờ vào nền giáo dục với những trường đại học theo đúng nghĩa nghiêm cẩn nhất của từ này, nhất là khả năng khai phóng cho tư duy sáng tạo.

Và ỏ chỗ này có lẽ chính là nơi bắt đầu sự tắc nghẽn cho quá trình phát triển của Việt Nam để trở thành một nước có nền công nghiệp công nghệ cao, qua những gì mà chúng ta quan sát thấy vào tháng 9 khi bắt đầu một niên học mới.

Đầu tiên là với các học sinh phổ thông, sự đổi mới năm nay là các em không phải đứng dưới nắng để nghe những bài phát biểu lê thê, thường rất ít liên quan đến giáo dục cũng như có rất ít tính giáo dục, của những vị quan chức nào đó. Trong khi đó nội dung học tập đổi mới, học tập sáng tạo, tích hợp  và không có những bài văn mẫu thì vẫn còn phải chờ chương trình mới, cái cũng vừa mới được Bộ Giáo dục tung ra để lấy ý kiến rộng rãi của xã hội. Và các cuộc tranh luận vẫn đang diễn ra gay gắt khi không ai xác định được sự tích hơp các môn học là gì, nên tích hợp như thế nào và giáo viên phải được đào tạo như thế nào để có thể dạy tích hợp được.Trong khi đó, số phận của các môn khoa học xã hội, những cái cần để cho học sinh trở thành con người trong xã hội có tư duy lành mạnh, độc lập về xã hội và cá nhân nhưng lâu nay lại bị biến thành những môn học thuộc lòng nhàm chán, vẫn đang còn bỏ ngỏ.

Tiếp đó, việc thi cử vẫn là một cuộc khủng hoảng lớn trong việc tuyển lựa người tài khi qua một kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và xét tuyển đại học được coi là đổi mới thì cái sự đổi mới đó chỉ gói gọn lại trong cách chấm thi, trong cách cho các loại điểm ưu tiên và cách tổ hợp điểm để trúng tuyển được vào trường mong muốn. Trong lúc đó, bài thi đã không có khả năng phân loại học sinh khi có những trường 27,5 điểm cho 3 môn mà vẫn chưa trúng tuyển. Cả xã hội nháo nhào theo dõi điếm số tuyển của các trường đại học, cái thay đổi hàng ngày theo số học sinh đăng ký, để điều chỉnh hồ sơ đăng ký theo học của mình, bất kể nghề gì, miễn là có thể lọt được vào một trường có tiếng nào đó. Sở nguyện và năng lực thật của ngưòi đi học, cái cần thiết để có những người tài, đã không được cân nhắc nhiều ở đây bằng cách tổ hợp điểm số các môn thi cho phù hợp với các quy định khá là ngẫu hứng của mỗi trường.

Cuối cùng, bản chất của giáo dục đại hoc là gì càng ngày càng trở nên xa vời, càng không được mấy nhà lập chính sách giáo dục hiểu cho thật rõ. Đại học, đó không chỉ là những giáo trình có thể đã hàng chục năm không thay đổi, những giáo viên chỉ truyền tải những kiến thức cổ xưa mà không hề tham gia vào nghiên cứu và cả đời cũng chẳng có công trình công bố quốc tế nào, hay là những cơ sở vật chất cần được xây mới cho to tát và hoành tráng hơn để có thể giải ngân nhiều hơn những nguồn kinh phí nhà nước, những gì chúng ta đang thấy trong nền giáo dục đại học nước nhà hôm nay, mà Đại học trước hết là sự dẫn dắt của Ý Niệm Đại Học theo thuật ngữ của triết gia vĩ đại Immanuel Kant. Theo đó, cái tinh thần cơ bản của giáo dục đại học là việc đi tìm chân lý trong đại học, lòng khao khát muốn nhận thức đươc chân lý, chứ đại học không phải là một cửa hàng bách hoá phục vụ ý thích của khách hàng như một loại “dịch vụ kiến thức” đơn thuần, mua rồi, xài rồi thì thôi.

Mà để làm được điều này, giáo dục đai học phải đảm bảo được sự tự do học thuật gồm ba yếu tố: 1. tự do giảng dạy, 2. tự do nghiên cứu và 3. tự do diễn ngôn. Người sinh viên khi bước vào cổng trường đại học đã phải được học tập, người giáo viên phải được giảng dạy theo các chương trình và bằng các phương pháp mà tập thể nhả trường cho là phù hợp mà không bi áp đặt, như ở trường phổ thông, bằng những chương trinh cứng nhắc và bắt buộc. Họ cũng được quyền lựa chọn chủ đề và phương pháp nghiên cứu phù hợp của mình cũng như quyền công bố các kết quả nghiên cứu, phát biểu ý kiến về những kết quả đó mà không bị sự áp đặt từ bên ngoài.

Và kết quả của sự tự do học thuật này là những người sinh viên đại học không phải là những học sinh cấp 4, xưng hô với thầy cô giáo bằng đạ từ con, như nền giáo dục Việt Nam chúng ta đã từng có lúc tưởng là như vậy. Và các thế hệ những người tốt nghiệp đại học không phải là những người suy nghĩ máy móc chỉ biết lặp lại những kiến thức do các thế hệ đi trước truyền lại mà họ trước hết phải là những người có một trình độ tư duy sâu sắc, độc lập để có thể phản biện nhưng cái không còn phù hợp, trong cuộc sống cũng như trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ cao, nhờ đó tìm kiếm ra và phát minh được những quy luật mới cũng như những công nghệ mới.

Với những nguồn nhân lực được hình thành trên một nền tảng tinh thần như thế, thi khi đó những địa bàn có cơ cấu hạ tầng hoàn thiện, những điều kiện ưu đãi được chính quyền hỗ trợ và những thứ khác nữa mới có thể phát huy và có được những kết quả vượt bậc mà chúng ta mong đợi từ các khu công nghệ cao. Còn nếu không thì những khu công nghệ cao, trong trường hợp khá nhất, chỉ là sự triển khai lại những gì mà các quốc gia khác đã làm, từ sản phẩm cho đến những nội dung kỹ thuật và công nghệ trong các sản phẩm đó nhưng không có sự bổ sung đáng kể nào giá trị gia tăng thông qua các chất xám của mình ngoài sự đóng góp vào đó những khối lượng lớn lao lao động giản đơn, vốn rất rẻ. Còn trong trường hợp xấu nhất sẽ là một sự lụn bại, tốn rất nhiều tiền đầu tư và ra những sản phẩm lỗi thời, vì trong cuộc chơi toàn cầu hóa ngày hôm nay, không quốc gia nào lại cho không bí quyết công nghệ mới nhất của mình cho kẻ khác để họ cạnh tranh lại với mình cả.

Vậy nên, với nền giáo dục hiện đại, nói chung và nền giáo dục đai học, nói riêng, của Việt Nam, sự thay đổi căn bản đang đòi hỏi. Đơn giản là nếu không chúng ta sẽ chỉ mãi mãi là những kẻ đi cày hùng hục mà chẳng bao giờ trở thành người chủ, cả trong công nghệ cao lẫn trong cuộc sống. Và những lời xưng tụng của các truyền thông nước ngoài sẽ chỉ là những lời tán tụng vô bổ mà thôi.

Vâng, cuộc chơi công nghiệp hoá chính là để người Việt trở thành ông chủ trên cánh đông, trước hết của mình, sau đó trên các cánh đồng khác nhờ qúa trình toàn cầu hoá. Điều này chỉ có thể có được, nếu nền giáo dục đại học nước nhà có thể đảm bảo đươc yêu cầu đầu tiên cho sự tồn tại của mình: tự do học thuật, như Magna Carta Universitatum, Hiến chương các trường đại học của Hiệp hội các đại học châu Âu, 1988 đã khẳng định:“Tự do trong nghiên cứu và đào tạo là nguyên tắc cơ bản của cuộc sống đại học.  Các chính phủ và các trường đại học, trong phạm vi tối đa của mình, phải đảm bảo tôn trọng yêu cầu cơ bản này”

 Phạm Bích San

Bạn nghĩ sao?
Click vào nút dưới đây để bình luận về bài viết này.
Hiển thị nhận xét
Báo Điện tử Tầm Nhìn
Báo Điện tử Tầm Nhìn
Báo Điện tử Tầm Nhìn